không có vua nguyễn huy thiệp

Không Có Vua - Nguyễn Huy Thiệp. Không Có Vua. Tác giả: Nguyễn Huy Thiệp. Thể loại: Truyện Ngắn. Biên tập: Bach Ly Bang. Upload bìa: Trần Lê Nguyễn. Số chương: 1. Phí download: 1 gạo. Nhóm đọc/download: 0 / 1. Văn Nguyễn Huy Thiệp như thể là những "giọt máu" rỉ ra từ "tâm hồn mẹ", tâm hồn của một chủ thể trót đời đạt đạo, vừa đau đời vừa "thương cả cho đời bạc". Cuối Không có vua, Đoài phát biểu, rằng Rượu vừa ngọt vừa cay. Ai chấp nhận cuộc sống thì Nguyễn Huy Thiệp mượn chuyện lịch sử để nói chuyện đời, để nói về cuộc tìm kiếm đạo - đường sống của con người nói chung, bất kể đạo ấy là một ông vua hay không phải ông vua. Không vua, không đạo sẽ loạn, có vua, có đạo, thiên hạ sẽ thái bình, con người có thể yên tâm mà sống. Hiếm nhà văn nào ở Việt Nam mà sau khi ra đi vẫn khiến người ta tranh cãi về mình và tác phẩm của mình nhiều như Nguyễn Huy Thiệp. Nhân 100 ngày mất của ông, cuốn sách "Về Nguyễn Huy Thiệp" (NXB Dân Trí và nhãn sách Liên Việt) tập hợp bài viết của 34 tác giả trở thành cuốn sách thứ hai về chân dung tác 0855.009.179. Trong mỗi hũ yến Anbinest đều chứa đến 2g tổ yến thật từ nguồn đảo yến tự nhiên Khánh Hoà (tức gấp đôi hũ yến thông thường). Và nhung hươu là loại nhung huyết mới vừa nhú ra, chỉ lấy phần lõi non bên trong, là phần có dưỡng chất tốt cho xương khớp Badische Zeitung Schnapp Er Sucht Sie. Uploaded byNguyen Thi Hong 0% found this document useful 0 votes6 views19 pagesCopyright© © All Rights ReservedAvailable FormatsPDF, TXT or read online from ScribdShare this documentDid you find this document useful?Is this content inappropriate?Report this Document0% found this document useful 0 votes6 views19 pagesKhông Có Vua - Nguyễn Huy ThiệpUploaded byNguyen Thi Hong Full descriptionJump to Page You are on page 1of 19Search inside document You're Reading a Free Preview Pages 7 to 17 are not shown in this preview. Buy the Full Version Reward Your CuriosityEverything you want to Anywhere. Any Commitment. Cancel anytime. Có sự nghiệp văn chương đồ sộ, được xem là “của hiếm”, là “hiện tượng độc đáo” thậm chí đến mức gây tranh cãi với các thể loại sáng tác gồm truyện ngắn, kịch, tiểu luận, phê bình văn học, song nhà văn Nguyễn Huy Thiệp thành công nhất là truyện ngắn… Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp 1950 – 2021 Ngày nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã rời cõi tạm sau thời gian dài chiến đấu với bệnh tật, để lại khoảng trống lớn cho văn đàn Việt Nam. Văn học đương đại Việt Nam hơn ba chục năm qua, không thể không nói tới nhà văn Nguyễn Huy Thiệp với hàng loạt truyện ngắn đưa tên tuổi ông lên hàng các tác gia kiệt xuất của văn chương Việt Nam cuối thế kỷ XX. Trong đó, các truyện “Tướng về hưu”, “Không có vua”… được coi là dấu mốc mở đầu cho thời kỳ văn học đổi mới. Nguyễn Huy Thiệp – người tạo ra bước ngoặt trong văn chương Việt Nam sau 1975 Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày tại huyện Thanh Trì, Hà Nội. Thuở nhỏ, ông cùng gia đình lưu lạc khắp nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, từ Thái Nguyên qua Phú Thọ, Vĩnh Yên… Vì thế, nông thôn và những người lao động để lại nhiều dấu ấn khá đậm nét trong những sáng tác của ông. Năm 1970, Nguyễn Huy Thiệp tốt nghiệp khoa sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Trước khi trở thành người viết chuyên nghiệp, ông đã có nhiều năm là một thày giáo ở miền núi. Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Huy Thiệp bắt đầu khá muộn với các truyện ngắn đăng trên báo Văn Nghệ. Tuy nhiên chỉ một vài năm sau đó, cả làng văn học trong lẫn ngoài nước xôn xao những cuộc tranh luận về các tác phẩm của ông. Với hơn 50 truyện ngắn, 10 vở kịch, 4 tiểu thuyết cùng nhiều tiểu luận, phê bình văn học gây chú ý, Nguyễn Huy Thiệp được xem là một “hiện tượng hiếm” của văn đàn Việt Nam. Các thể loại của ông đa dạng từ truyện ngắn, tiểu thuyết đến cả kịch mang hơi hướng huyền thoại, cổ tích và những góc nhìn táo bạo và đa chiều về làng quê, người lao động. Tên tuổi của ông gắn liền với các truyện ngắn như “Tướng về hưu”, “Muối của rừng”, “Không có vua”, “Con gái thủy thần”, “Những người thợ xẻ”, “Thương nhớ đồng quê”, “Sang sông”… và bộ ba truyện ngắn lịch sử gồm “Kiếm sắc”, “Vàng lửa”, “Phẩm tiết”… Ba cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã được xuất bản gồm “Tiểu long nữ”, “Gạ tình lấy điểm”, “Tuổi 20 yêu dấu”. Các tác phẩm “Tướng về hưu”, “Thương nhớ đồng quê” của ông đã được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh và cũng đã gây tiếng vang… Truyện ngắn của ông cũng được dịch sang nhiều ngôn ngữ như Pháp, Anh, Italy, Thụy Điển, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản, Indonesia… Năm 2007, 2008, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp liên tục nhận Huân chương Văn học Nghệ thuật của Pháp và giải thưởng Premio Nonino của Italy. Năm 2015, ông hoàn thành tiểu thuyết “Vong bướm” và quyết định dừng nghiệp sáng tác ở tuổi 65. Nguyễn Huy Thiệp cũng là một trong 50 tác giả có các tác phẩm, cụm tác phẩm xuất sắc được đề nghị xét tặng Giải thưởng Nhà nước trong lĩnh vực Văn học nghệ thuật 2021. Hai tác phẩm được đề nghị xét giải của ông là truyện ngắn “Tướng về hưu” và “Những ngọn gió Hua Tát”. Sinh thời, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp khiêm tốn tự nhận ông “là một dạng ăn may, may mắn gặp thời” nhưng ông rất xác tín về “phẩm chất của một nhà văn”. Tác giả “Tướng về hưu” dẫn lại “lời của các cụ ngày xưa” mà ông tâm ý chính là lời nói của nhà bác học Lê Quý Đôn 1726-1784 “Văn học không phải trò chơi, là câu chuyện phiếm. Muốn văn hay phải hiểu biết và từng trải nhiều. Văn chương chữ nghĩa không phải là lời nói suông. Trong bụng không có ba vạn quyển sách, trong mắt không có núi sông kỳ lạ của thiên hạ thì không thể làm văn được”. Đánh giá về vai trò của Nguyễn Huy Thiệp trong văn chương Việt Nam từ 1975-1991, nhà phê bình La Khắc Hòa nhận định “Nguyễn Minh Châu mở đường đổi mới văn học Việt Nam sau 1975 với truyện ngắn Bức tranh. Còn Nguyễn Huy Thiệp là người đầu tiên tạo ra bước ngoặt quan trọng của đổi mới”. Nhiều nhà nghiên cứu văn học đã nhận định rằng, một mình Nguyễn Huy Thiệp không làm nên được diện mạo của nền văn học Việt Nam sau 1975 đến nay, nhưng một mình ông lại có thể đào xới lên nhiều vấn đề thuộc về bản chất văn học, tạo nên sức bật khỏi ảnh hưởng văn học trước 1975, từ đó đưa văn học Việt Nam sau 1975 đi xa hơn, vững vàng hơn trên hành trình đổi mới văn học dân tộc, hòa nhập vào biển cả văn học hiện đại của thế giới. Thấm đượm trên ngòi bút sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp là tư tưởng triết học tự nhiên, một thứ triết học nguyên sơ, bắt nguồn từ tín ngưỡng phồn thực sâu xa của nền văn hóa cổ Đông Nam Á. Những tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp một mặt là sự tiếp nối, bảo lưu nguồn mạch văn học dân gian, mặt khác lại tiếp thu tính hiện đại, đánh dấu bước ngoặt của văn học Việt Nam thời đổi mới, khai phá những chủ đề như cái phi lý, sự cô đơn, tha hóa của xã hội… hòa vào dòng chảy của chủ nghĩa hiện đại trong văn học thế giới thế kỷ XX. Bằng ngòi bút đầy bản lĩnh và tài năng sáng tạo, Nguyễn Huy Thiệp đã làm một cuộc cách mạng trong tư duy nghệ thuật so với truyền thống. Những tác phẩm của ông mang lại cho độc giả một cảm giác vừa thân quen, vừa lạ lẫm, vừa truyền thống, vừa hiện đại. Nét cá tính và phóng khoáng, không bị gò bó bởi khuôn mẫu đã khiến cho văn chương của ông có sức hút một cách kỳ lạ khó có thể diễn tả. Nguyễn Huy Thiệp – “ông vua truyện ngắn” Có sự nghiệp văn chương đồ sộ, được xem là “của hiếm”, là “hiện tượng độc đáo” thậm chí đến mức gây tranh cãi với các thể loại sáng tác gồm truyện ngắn, kịch, tiểu luận, phê bình văn học, song nhà văn Nguyễn Huy Thiệp thành công nhất là truyện ngắn. Trong các tác phẩm nổi tiếng của ông, nổi bật nhất với “Tướng về hưu” phổ biến lần đầu vào tháng 6-1987 trên Báo Văn nghệ – lúc bấy giờ Nguyễn Huy Thiệp còn là nhân viên Công ty Sách – thiết bị trường học thuộc Bộ Giáo dục và “chưa có tên tuổi gì ở trên văn đàn” như ông tự nhận. Với tác phẩm “Tướng về hưu”, điều độc đáo mà bao nhà nghiên cứu phê bình văn học, giới mộ điệu văn chương và công chúng thưởng thức từng bình phẩm, tranh luận suốt hơn 30 năm qua đó chính là câu chuyện, dòng văn độc đáo, khó ai bắt chước trên một cốt truyện lẫn nhân vật bình thường. Thật vậy, những câu đơn với giọng kể chắt lọc, súc tích của ông đi sâu vào tâm trí người đọc dẫu cho nó có chua chát hay nhẹ nhàng. Hiện thực cuộc sống, số phận con người trong xã hội sau chiến tranh từ đó được phản ánh rất mạnh mẽ bằng thủ pháp văn chương rất riêng của Nguyễn Huy Thiệp. Không có cái gì là đơn giản, một chiều trong thế giới nhân vật trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp. Nhà nghiên cứu và phê bình văn học Vương Trí Nhàn nhận định “Nếu có một thứ “quả bóng vàng” hay là “cây bút vàng” dành để tặng cho các cây bút xuất sắc hằng năm, thì trong năm 1987 – và cả nửa đầu năm 1988 – người xứng đáng được giải trong văn xuôi ta, có lẽ là Nguyễn Huy Thiệp. Nhắc tới anh, người ta nhớ “Tướng về hưu” gây xôn xao một dạo, bởi cách viết rạch ròi, trần trụi; nhớ Muối của rừng tưởng như không đâu, hóa ra lại đượm nhiều ngụ ý âm thầm; nhớ “Một thoáng Xuân Hương” lịch duyệt mang đậm phong vị kẻ sĩ Bắc Hà; nhớ “Con gái thuỷ thần” lẫn lộn hư thực, và liều lĩnh đến tùy tiện”. Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ những người nghèo khổ, hay những người mang hình dạng kì dị… tuy mang dáng dấp cổ tích, nhưng lại chất chứa những cảm giác thời hiện đại. Họ luôn luôn dấn thân trên con đường đi tìm hạnh phúc, đi tìm cái Chân, Thiện, Mỹ tuyệt đối, để rồi nhận được những bài học cay đắng, xót xa. Với tuyên ngôn “Tôi căm ghét sâu sắc những kết thúc có hậu”, những truyện ngắn “giả cổ tích”, “giả truyền kỳ” của Nguyễn Huy Thiệp hầu hết đều kết thúc không có hậu. Nó mở ra những dự cảm, những cảm xúc tái tê đằng sau khối cô văn lạnh lùng của một cây bút tỉnh táo, sắc nhạy, khiến cho người đọc cứ thế ngấm dần, ngấm dần và xoáy theo luồng xúc cảm cùng những nhân vật. Với giọng văn “lạnh”, tác giả đã thể hiện một thái độ dửng dưng tuyệt đối đối với nội dung tư tưởng được thể hiện trong tác phẩm. Qua giọng văn ấy, thế giới nhân vật, nội dung câu chuyện luôn hiện ra một chất trung thực, khách quan trước mắt người đọc. Người đọc được tách biệt hoàn toàn so với thiên kiến của tác giả. Độc giả được tự do phán xét nhân vật theo chủ kiến của mình. Trong nhiều truyện ngắn “Không có vua”, “Những bài học nông thôn”, “Tướng về hưu”… tác giả cũng nhập vào vai người kể chuyện nhân vật xưng “tôi” nhưng vẫn cố ý tách ra khỏi câu chuyện để đảm bảo tính khách quan. Để tạo ra được giọng văn “lạnh”, Nguyễn Huy Thiệp dùng nhiều câu trần thuật ngắn gọn, súc tích, mang đậm tính liệt kê. Nguyễn Huy Thiệp rất chuộng dùng câu đơn. Đối với loại câu đơn có xuất hiện thành phần phụ thì thành phần phụ thường được tách ra bằng dấu phẩy. Riêng câu ghép, các vế cũng được tách ra rạch ròi. Điển hình “Cha tôi tên Thuấn, con trưởng họ Nguyễn. Trong làng, họ Nguyễn là họ lớn, số lượng trai đinh có lẽ chỉ thua họ Vũ. Ông nội tôi trước kia học Nho, sau về dạy học. Ông nội tôi có hai vợ. Bà cả sinh được cha tôi ít ngày thì mất, vì vậy ông nội tôi phải tục huyền. Bà hai làm nghề nhuộm vải…” “Tướng về hưu”; hay “Cấn là con trưởng. Dưới Cấn có bốn em trai, chênh nhau một, hai tuổi. Đoài là công chức ngành giáo dục, Khiêm là nhân viên lò mổ thuộc Công ty thực phẩm, Khảm là sinh viên đại học. Tốn, con út, bị bệnh thần kinh, người teo tóp, dị dạng. Nhà lão Kiền sáu người. Toàn đàn ông” “Không có vua”… Những câu văn sắc lạnh dửng dưng như thế có mặt khắp các trang văn của Nguyễn Huy Thiệp. Nó tạo cho tác giả một nét riêng độc đáo về phong cách. Có thể thấy, hầu hết những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đều chứa đựng một hoặc vài lời triết lý của ông về văn chương. Điều đó chứng tỏ, Nguyễn Huy Thiệp là người hay trăn trở về văn chương và ý nghĩa của nó. Những triết lý đó, được phát biểu gián tiếp qua các nhân vật, qua tình huống truyện hoặc đôi khi phát biểu một cách trực tiếp. Trước đây, Nam Cao cũng thường thể hiện những quan niệm của mình trên trang viết của mình. Nhưng với Nguyễn Huy Thiệp, văn chương không đơn giản và rành mạch như Nam Cao. Cái nhìn của ông về văn chương có gì đó rất phức tạp – phức tạp như chính cuộc đời, khi thì “văn chương là thứ bỉ ổi nhất” “Chút thoáng Xuân Hương”, khi thì “văn chương có cái gì từa tựa lẽ phải” “Giọt máu”, khi thì “văn chương có nhiều thứ lắm. Có thứ văn chương hành nghề kiếm sống, có thứ văn chương sửa mình, có thứ văn chương trốn đời, trốn việc. Lại có thứ văn chương làm loạn” “Giọt máu”. Những triết lý đó đã phá vỡ cái khuôn mẫu, từ đó chính ông đã dùng ngòi bút và con mắt tinh tường của mình khiến huyền thoại hóa giải huyền thoại, dùng cổ tích để hóa giải cổ tích. Tinh thần “tự phê”, “tự nghiệm”, ý thức phản tỉnh và tra vấn đã làm nên sức mạnh và giá trị của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Cái tâm của nhà văn, không gì khác hơn, chính là sự thức nhận về sứ mệnh “khơi gợi chân lý”, tra vấn nhân tâm của người nghệ sĩ. Đồng thời, tinh thần nghệ thuật hiện đại cũng không cho phép một sự ban phát chân lý cuối cùng, một tư thế độc thoại giữa nhà văn và bạn đọc. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp mang màu sắc dân chủ và hiện đại bởi đó là những tác phẩm “mở”, ở đó, cả người viết và người đọc đều được đẩy vào một cuộc đối thoại lớn và nhà văn “để ngỏ cuộc đối thoại đó mà không đánh dấu chấm hết”. Sự ra đi của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã để lại một khoảng trống rất lớn đối với văn đàn Việt Nam. Đối với nhà văn Nguyễn Văn Thọ “Nguyễn Huy Thiệp mất, tôi mất đi một bạn văn lớn – người chia sẻ với tôi rất nhiều về bút pháp, về vị trí và vai trò của nhà văn trong xã hội. Đồng thời, sự ra đi của anh, tạo ra một lỗ thủng đối với văn đàn Việt Nam”. Còn theo nhà phê bình Văn Giá “trước Nguyễn Huy Thiệp, văn học Việt Nam khác. Từ Nguyễn Huy Thiệp trở đi, văn học Việt Nam khác. Ông đã cắm một dấu mốc rất ghê gớm và quan trọng vào đời sống văn học Việt Nam. Trong đổi mới, có những đổi mới từ từ, từ người này đến người kia. Nhưng Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện năm 1987, đã gây nên một dấu ấn đậm nét. Ông tạo ra một cảm quan, cái nhìn mới về đời sống, dẫn đến một hướng viết mới, một ngôn ngữ mới, một cách biểu đạt mới trong văn xuôi Việt Nam hiện đại. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có sứ mệnh đổi mới văn học; và ông đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình”. Nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng rất đau buồn khi nền văn học nước nhà mất đi một cây đại thụ. Theo ông “thời kỳ 1985-1996, ở mảng truyện ngắn, không ai viết hay hơn Nguyễn Huy Thiệp. Giọng văn của ông có chất riêng, ngắn gọn, sắc nét, không dông dài. Điều mừng là cuối đời ông có tên trong danh sách xét tặng giải thưởng Nhà nước. Đó là ghi nhận xứng đáng cho tài năng của ông”. DIỆP NINH/ TTXVN Xem thêm Nhà thơ Nguyễn Duy “Tôi viết bằng cái tình, cái hồn của dân” Loài người có bớt ngạo mạn? Khi thơ là “phong cách của tư tưởng” Truyện ngắn Phạm Hữu Hoàng Trăng lạnh Thơ 1-2-3 Nguyễn Đinh Văn Hiếu Lửa ngoài trời mà đốt cháy tâm can VJE Tạp chí Giáo dục, Số 455 Kì 1 - 6/2019, tr 35-38 NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN “KHÔNG CÓ VUA” CỦA NGUYỄN HUY THIỆP Võ Thị Bảy, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng Ngày nhận bài 01/04/2019; ngày sửa chữa 20/04/2019; ngày duyệt đăng 03/05/2019. Abstract Narratology is a subject that that studies the narrative structure of story. The narrative theory focuses on studying the role of narrators in “engaging” in the text structure. Application of narrative theory into research works “No King” of Nguyen Huy Thiep helps students to understand the internal structure of the work and see the contribution of the writer as a creator. Keywords Narrative, storytelling, exposition, art, No King. 1. Mở đầu ra các ngôi kể khác nhau. Ngôi kể chính là sự hóa thân Tự sự học là phân môn nghiên cứu cấu trúc diễn ngôn của người KC vào từng nhân vật để trực tiếp tham gia truyện kể. Lí thuyết tự sự học tập trung nghiên cứu vai vào câu chuyện. Người KC sẽ chi phối các ngôi kể. Khi trò của người trần thuật trong việc “can dự” vào cấu trúc người KC đứng ở ngôi thứ nhất, trực tiếp tham gia vào văn bản. Nghệ thuật tự sự có ý nghĩa rất lớn đối với sự các sự kiện diễn biến của câu chuyện chúng ta có ngôi thành công của một tác phẩm, đồng thời, cũng khẳng kể chủ quan hóa. Ngược lại, trong trường hợp người KC định tài năng của nhà văn. Việc ứng dụng lí thuyết tự sự đứng ngoài mọi sự kiện, đóng vai trò người dẫn dắt hay học vào nghiên cứu tác phẩm Không có vua của Nguyễn người KC ở ngôi thứ ba tạo ra ngôi kể khách quan hóa. Huy Thiệp không chỉ giúp tìm hiểu cấu trúc nội tại của Tuy nhiên, có thể nhận thấy, dù ở ngôi kể nào thì chúng tác phẩm mà còn thấy được những đóng góp của nhà văn cũng là những ước lệ đại diện cho một cách nhìn, một với tư cách là người sáng tạo. tư tưởng nhất định, có quan hệ mật thiết với hình tượng Ở bài viết này, chúng tôi tìm hiểu nghệ thuật tự sự tác giả. trong truyện ngắn Không có vua của Nguyễn Huy Thiệp Một trong những đặc điểm nổi bật của truyện ngắn ở những điểm như người kể chuyện KC và điểm nhìn Không có vua là hình thức trần thuật từ ngôi thứ ba. Ưu trần thuật; ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật; không gian, thế của ngôi kể thứ ba này là làm cho câu chuyện được thời gian nghệ thuật nhằm tiếp cận một cách có hệ thống kể hoàn toàn khách quan, tạo được lòng tin ở người đọc. cấu trúc nội tại của tác phẩm dưới góc nhìn tự sự học. Qua nhân vật người KC, ta nhận ra Không có vua của Kết quả nghiên cứu hi vọng có thể giúp sinh viên ngành Nguyễn Huy Thiệp là câu chuyện được kể về một gia Ngữ văn có cái nhìn sâu sắc, đa dạng trong việc tiếp nhận đình bị băng hoại về đạo đức, không có tôn ti trật tự, tác phẩm trên bình diện lí luận văn học. không có chuẩn mực giá trị. Họ sống với nhau bằng sự 2. Nội dung nghiên cứu ích kỉ, bằng bạo lực và những mưu tính riêng, vì thế, họ hằn học, hành hạ nhau cả về thể xác lẫn tinh thần. Cuộc Người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật trong sống trong cái gia đình ấy chẳng khác nào một “bàn cờ truyện ngắn Không có vua của Nguyễn Huy Thiệp loạn” vì “không có vua”. Đồng thời, từ ngôi kể thứ ba, ta Người kể chuyện trong truyện ngắn Không có vua nhận ra được tính cách của từng nhân vật Lão Kiền suốt Người KC là một trong những vấn đề trung tâm của ngày cau có, chực cơ hội để “xổ toẹt” vào con cái những thi pháp văn xuôi hiện đại, là sản phẩm của sự sáng tạo lời độc địa, hành động bỉ ổi; Cấn nóng tính, vũ phu; nghệ thuật, là công cụ do nhà văn hư cấu nên để KC. Vì Đoài là kẻ vô giáo dục; Khiêm, tay đồ tể “ngoại hạng”, vậy, người KC trong tác phẩm tự sự là một nhân vật mắt “vằn tia máu đỏ”, sòng phẳng đến tàn nhẫn với anh mang tính chức năng, trước hết là chức năng tổ chức kết trai; Khảm ti tiện, nghi kị với chính anh em của mình. cấu tác phẩm bao gồm hệ thống hình tượng nhân vật, hệ Ngược lại với họ, Sinh và Tốn là những người hiền lành, thống các sự kiện, liên kết chúng lại tạo thành một tác tốt bụng. Trước hết là Sinh, với vai trò người phụ nữ duy phẩm. Mặt khác, người KC còn có chức năng môi giới, nhất trong gia đình, cô đảm đang việc nội trợ, ngày phục dẫn dắt người đọc tiếp cận thế giới nghệ thuật. Ngoài ra, vụ 3 bữa cơm chu tất cho 6 người đàn ông; cô còn là người KC còn thay mặt nhà văn trình bày những quan người vợ chung thủy với chồng và thương yêu Tốn - điểm về cuộc sống, về nghệ thuật. người em chồng bệnh tật; Tốn tuy có hình thể xấu xí “bị Tư cách, vị thế của nhân vật người KC trong mối bệnh thần kinh, người teo tóp, dị dạng” nhưng rất siêng quan hệ với tác giả chủ thể và đối tượng được kể tạo năng và tình cảm. Tốn siêng làm việc nhà, hay giúp đỡ 35 VJE Tạp chí Giáo dục, Số 455 Kì 1 - 6/2019, tr 35-38 Sinh và cư xử với Sinh “bằng lòng tốt vô bờ bến”. Khi anh lại rất mực tử tế với chị dâu và Tốn. Khiêm đã khiến bốn ông anh biểu quyết để bố chết thì Tốn bật khóc hu cho Sinh cảm động đến “rớm nước mắt” trong đêm giao hu. Đó là tiếng khóc của một con người tuy không ý thức thừa. Anh cũng rất mực tử tế với bố. Bên giường bệnh được mình nhưng lại là tiếng khóc chân thực nhất. Qua của bố, khi đêm đã khuya, mọi người đã đi ngủ, anh vẫn nhân vật người KC ở ngôi thứ ba, có thể nhận thấy, các ngồi đọc bài kinh xin đức Phật giải tội cho người sắp nhân vật hiện lên trong truyện với sự hỗn độn, bát nháo. chết đến “lạc cả giọng”. Điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Không có Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong truyện vua của Nguyễn Huy Thiệp ngắn Không có vua của Nguyễn Huy Thiệp Điểm nhìn trần thuật là một trong những yếu tố quan Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Không có trọng của kết cấu văn bản nghệ thuật. Có thể nói, bất kì vua một nhà văn nào khi xây dựng tác phẩm, xây dựng hình Ngôn ngữ trần thuật là yếu tố cơ bản thể hiện phong tượng để thể hiện cái nhìn về thế giới của mình đều phải cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính của xác định một chỗ đứng, một góc quan sát. Muốn hiểu tư tác giả và bộc lộ rõ ý thức sử dụng ngôn ngữ của nhà văn. tưởng nhà văn trong tác phẩm không thể không tìm hiểu Ngôn ngữ trần thuật là một phương diện rất phức tạp của điểm nhìn, bởi đây chính là yếu tố đầu tiên, quan trọng nghệ thuật tự sự. Nó là ngôn ngữ đa thanh vì đặc trưng đưa người đọc vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm. của ngôn ngữ văn xuôi là sự tác động qua lại rất phức tạp Căn cứ vào vị trí khác nhau của người KC sẽ có giữa tiếng nói tác giả, người KC và nhân vật, giữa ngôn những điểm nhìn trần thuật khác nhau. Về cơ bản, có ba ngữ miêu tả và ngôn ngữ được miêu tả. Trong truyện loại điểm nhìn điểm nhìn biết hết điểm nhìn “toàn tri”, ngắn Không có vua, Nguyễn Huy Thiệp thành công ở điểm nhìn bên trong điểm nhìn “hạn tri”, điểm nhìn việc xây dựng ngôn ngữ đối thoại. Đối thoại giữa nhân bên ngoài. vật - nhân vật, nhân vật - người đọc, tác giả - người đọc. Trong truyện ngắn Không có vua, nhà văn sử dụng Đặc điểm nổi bật trong ngôn ngữ trần thuật của lối trần thuật ngôi thứ ba nên điểm nhìn trần thuật xuyên truyện ngắn Không có vua là nhà văn đã đưa lời đối thoại suốt câu chuyện là điểm nhìn bên ngoài. Góc nhìn không của nhân vật vào trong tác phẩm có kèm theo lời dẫn phải của bất cứ nhân vật nào trong truyện. Nhà văn không thoại. Nhưng lời dẫn thoại của người KC luôn được đặt chủ tâm đi sâu biểu hiện tư tưởng, tình cảm nội tâm của trong sự hạn chế tối đa. Số lượng từ ngữ thường được nhân vật mà chỉ kể lại sự kiện hoặc ngôn ngữ, cử chỉ, khuôn mình trong cấu trúc của một câu đơn hai thành hành động, ngoại hình và hoàn cảnh của nhân vật trong phần ngắn gọn như “Đoài bảo”, “Cấn hỏi”, “Khiêm truyện. Nhờ vậy, sự kiện trong tác phẩm, tính cách, cử nói”... Lời dẫn thoại kiểu này làm nhạt hóa vai trò người chỉ của từng nhân vật cũng được phơi bày. Qua đó, ta KC. Sự nhạt hóa dấu ấn ngôn ngữ của người dẫn dắt đã nhận thấy được, Nguyễn Huy Thiệp luôn nhìn nhân vật tạo điều kiện thuận lợi để nhân vật tự trình diễn ngôn ngữ của mình dưới các góc độ khác nhau, chính vì thế nhân của mình. Chính vì vậy, những đoạn thoại trong truyện vật của ông không có ai tốt hoàn toàn, cũng không có ai ngắn Không có vua khiến người đọc có cảm giác chỉ có xấu hoàn toàn. Đó là cách nhìn một cách toàn diện bởi lẽ nhân vật nói với nhau và chỉ có nhân vật với độc giả, nhờ trong con người ta luôn tồn tại phần “con” và phần vậy, tạo nên không khí đối thoại trực diện, căng thẳng, “người”, giữa ý thức, trách nhiệm và khát vọng cá nhân. giàu kịch tính. Vì vậy, những người trong gia đình lão Kiền, thực chất Ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn Không có vua ai cũng có những nét đẹp ẩn trong tâm hồn. Tác giả nhìn thiên về bày tỏ chính kiến, khẳng định ý thức chủ thể ra bên cạnh một người cha cục cằn, thô lỗ thì lão Kiền nhân vật. Những lời nói mang khuynh hướng tư tưởng còn là người đáng thương, biết thành thực, biết hi sinh để đối lập nhau gay gắt tạo nên kịch tính cho đối thoại. Xung sống cho con cái “tao chỉ nghĩ thân tao, thì lũ chúng mày đột kịch được tạo ra qua ngôn ngữ đối thoại là những được thế này à?”. Hoặc những điểm tốt ở Đoài có lúc xung đột giữa các ý thức của các chủ thể mang những nội Đoài cũng tỏ ra tử tế vì thông cảm và biết ơn sự hi sinh dung tấn công - phản công. của bố. Khi anh trai sắp giở trò vũ phu với chị dâu, Đoài Ngoài ra, ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn tỏ ra nghĩa khí bênh vực kẻ yếu. Ngoài ra, Đoài cũng biết Không có vua còn được thể hiện như “tuyên ngôn” của quan tâm đến những thành viên khác trong gia đình. Anh nhân vật, nó ám ảnh, ám dụ người đọc cùng suy ngẫm để giúp Tốn dọn nhà đón mẹ con Sinh từ bệnh viện về. rồi tự mỗi người đưa ra lời bình luận riêng của mình. Trong bữa tiệc mừng thành viên mới, Đoài rót rượu ra cốc, đứng lên nói “Cốc rượu này tôi dâng cuộc sống... Giọng điệu trần thuật trong Không có vua Vì đứa trẻ mới sinh ra kia, vì tương lai của nó”. Và Theo Từ điển Thuật ngữ văn học, nói tới giọng điệu Khiêm cũng vậy, vẻ bề ngoài lạnh lùng, cục mịch nhưng là nói tới “thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo 36 VJE Tạp chí Giáo dục, Số 455 Kì 1 - 6/2019, tr 35-38 đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện Không gian trong truyện Không có vua là không gian trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, thực. Không gian quanh quẩn trong gian nhà chật chội sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành của gia đình lão Kiền. Hoặc không gian ở bệnh viện nơi kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm” [1; tr 134]. các cậu con trai đang ngồi chờ bố phẫu thuật lúc lâm bạo Có rất nhiều yếu tố tạo nên giọng điệu trần thuật trong đó bệnh, nhưng cũng không có gì mới lạ. Đây là không gian yếu tố quan trọng nhất chính là cảm hứng của người KC. tồn tại quen thuộc của cuộc sống đời thường. Chính cái Giọng điệu là kết cấu siêu văn bản, là yếu tố quan trọng không gian quen thuộc, chật chội này đã nảy sinh ra biết tạo nên phong cách nhà văn, có vai trò thống nhất các bao chuyện bi hài. Ở đó, luân thường bị đảo lộn, tình yếu tố khác của hình thức tác phẩm vào một chỉnh thể. người phôi pha cha không tôn trọng con cái, con coi cha Dựa vào những tiêu chí khác nhau mà người ta có cách như kẻ bằng vai phải lứa, anh em tính toán với nhau, phân loại giọng điệu khác nhau như giọng trang trọng không coi nhau ra gì. Đạo đức con người đang dần bị hay thân mật, giọng mạnh mẽ hay yếu ớt, giọng thiết tha băng hoại, đạo đức truyền thống trong cơn đảo điên hay lạnh lùng, giọng bi hay hài, châm biếm hay trữ tình... không hề có chỗ đứng. Qua đó, tác giả lên tiếng phê phán Khi đời sống xã hội ngày càng bộn bề, đa chiều thì những suy nghĩ và lối sống tiêu cực của con người, đồng nhu cầu nhận thức, khái quát càng trở nên bức bách đối thời thức tỉnh và đề cao giá trị đạo đức xã hội tình người với nhà văn. Đặc biệt, sau năm 1975, hiện thực cuộc sống - thứ cao quý hơn bất kì vật chất nào khác. có nhiều thay đổi, nhà văn cũng nỗ lực để nắm bắt những Thời gian nghệ thuật trong Không có vua đổi thay ấy. Do đó, nhu cầu thể hiện những suy ngẫm, Thời gian nghệ thuật là “hình thức nội tại của hình chiêm nghiệm riêng là điều thường thấy ở những nhà văn tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó. Cũng giai đoạn này. Vì vậy, bằng cách viết lạnh lùng, chân thật, như không gian nghệ thuật, sự miêu tả, trần thuật trong khách quan, Nguyễn Huy Thiệp bộc bạch những suy văn học bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất ngẫm của mình về cuộc sống. định trong thời gian. Và cái được trần thuật bao giờ cũng Trong truyện ngắn Không có vua, với cách trần thuật diễn ra trong thời gian, được biết qua thời gian trần lạnh lùng, khách quan đã làm cho thế giới được miêu tả thuật” [1; tr 322]. Thời gian nghệ thuật gắn liền với quan trong tác phẩm sống động như chính cuộc sống ngoài đời niệm của nhà văn. Vì thế, thời gian nghệ thuật có nhiều thực. Con người, cảnh vật hiện lên chân thật, gần gũi. Tất phương thức tổ chức như dồn nén, kéo giãn, phân cách, cả những thứ giản dị, đời thường ấy bước vào trang hòa trộn, đồng hiện theo trình tự tuyến tính, gấp khúc, truyện hồn nhiên nhưng gợi cho người đọc bao suy nghĩ, đảo lộn... trăn trở. Cuộc sống ấy, từ một gia đình như bao gia đình Văn học thời kì đổi mới đã mở rộng quan niệm về khác mà suy ra hình ảnh của cả xã hội. Nhà văn kể câu thời gian Thời gian vừa là khách thể, vừa là chủ thể, vừa chuyện bằng một giọng quá khách quan, quá lạnh lùng, là công cụ phản ánh của văn học. Chính vì thế, văn xuôi tới mức dửng dưng, thờ ơ. Nhưng chính cái vẻ lạnh nhạt Việt Nam giai đoạn này thường phản ánh đời sống của ấy lại tô đậm thêm tính chất phê phán với những vấn đề con người trong sự cọ xát và trôi nhanh của thời gian. mà ông đặt ra trong tác phẩm của mình. Chính cảm hứng Nhưng hiện thực đời sống nhiều chiều phức tạp nên các phê phán, phản tỉnh này khiến câu chuyện của Nguyễn nhà văn đã chọn cho mình một phương thức tổ chức thời Huy Thiệp trở nên có chiều sâu, có tính triết lí. gian nghệ thuật phù hợp để phản ánh được nhiều hơn hiện thực đa chiều. Không gian, thời gian trong truyện ngắn Không có Thời gian trong truyện ngắn Không có vua là thời vua của Nguyễn Huy Thiệp gian của những buổi sáng, ngày giỗ, buổi chiều, ngày tết, Không gian nghệ thuật trong Không có vua buổi tối, ngày thường. Mỗi một khoảnh khắc thời gian Không gian nghệ thuật “là hình thức bên trong của đều ghi lại những cuộc cãi cọ, giằng co, đối chấp đến ngột hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó. Sự ngạt của những thành viên trong gia đình. Theo đó, miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất chúng ta có cảm nhận, Nguyễn Huy Thiệp nhân thể moi phát từ một điểm nhìn diễn ra trong trường nhìn nhất móc ra đủ các loại bệnh tật của cái gia đình bình thường định... Không gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu này. Nào là cái lối sống không tôn ti, trật tự, không có trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng phép tắc, không đạo đức; cái loại người đê tiện, xấu xa, trưng, mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu cái tật xu nịnh cấp trên; cái tục thờ cúng truyền thống cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học” [1; tr đang ngày càng mai một... Tất tần tật bằng ấy thứ nhồi 160-161]. Không gian trong văn học có nét đặc thù riêng, nhét trong mấy ngày sinh hoạt của gia đình này. đa dạng nhiều chiều không gian thực, không gian siêu Trong những khoảng thời gian ấy, Nguyễn Huy thực, không gian vật lí, không gian tâm tưởng... Thiệp dường như dừng lại lâu nhất ở thời gian ngày tết 37 VJE Tạp chí Giáo dục, Số 455 Kì 1 - 6/2019, tr 35-38 mặc dù mọi người trong gia đình đều cảm giác “Ngày tết [2] Nguyễn Thị Bình 2007. Văn xuôi Việt Nam 1975- trôi nhanh”. Đây là khoảnh khắc yên bình nhất của gia 1995 - Những đổi mới cơ bản. NXB Giáo dục. đình. Dẫu có sự tị nạnh, gièm pha của Khảm trong cách [3] Trương Đăng Dung 2001. Những vấn đề lí luận và bố quan tâm Tốn và chị Sinh thì cũng không làm mất đi lịch sử văn học. NXB Khoa học xã hội. cái không khí ấm cúng ấy. Phần lớn thành viên trong gia [4] Nguyễn Huy Thiệp 2003. Tập truyện ngắn. NXB đình đều phấn khởi chuẩn bị cho ngày tết. Cũng chính Văn học. thời gian này, Nguyễn Huy Thiệp đã giúp người đọc nhận ra những đức tính tốt đẹp của những người vốn cộc [5] Nguyễn Khắc Sính 2006. Phong cách thời đại nhìn cằn, thô lỗ, bỉ ổi ngày trước nay lại trở nên đáng yêu. Lão từ một thể loại văn học. NXB Văn học. Kiền rút tiền tiết kiệm ngoài việc mua quà cho Tốn và [6] Trần Đình Sử 1998. Giáo trình dẫn luận thi pháp Sinh còn lại giao cả cho Cấn - người quản lí chi tiêu của học. NXB Giáo dục. gia đình. Trong ngày tết sáng mồng một, lão cùng vợ [7] Trần Đình Sử 2015. Tự sự học - Một số vấn đề lí chồng Cấn trang phục chỉnh tề đi chúc tết hàng xóm. luận và lịch sử tập 2. NXB Đại học Sư phạm. Khiêm cục mịch, lạnh lùng nhưng lại biết cách cư xử, [8] Trần Đình Sử 2001. Những công trình thi pháp học trân quý chị dâu và em út trong đêm giao thừa, khiến Sinh tập 1 NXB Giáo dục. cảm động “rớm nước mắt”. Và phải chăng chính những giờ phút hạnh phúc này đã góp phần xóa đi những nhục [9] Trần Đình Sử 2005. Những công trình lí luận và nhằn, tủi khổ để họ dù có nhận ra cuộc sống ở gia đình phê bình văn học tập 2. NXB Giáo dục. này là khổ “Nhổ chứ. Nhục lắm. Vừa đau đớn, vừa chua [10] Trần Ngọc Vương 1999. Văn học Việt Nam dòng xót”, nhưng “thương lắm!”. riêng giữa nguồn chung. NXB Đại học Quốc gia Hà 3. Kết luận Nội. Qua việc nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Không có vua của Nguyễn Huy Thiệp, có thể rút CÁC HƯỚNG TIẾP CẬN TRONG QUẢN LÍ... ra được những điểm đáng chú ý như điểm nhìn trần Tiếp theo trang 23 thuật là yếu tố trung tâm của lí thuyết tự sự. Nguyễn Huy Thiệp đã vận dụng khéo léo điểm nhìn bên ngoài với dạng thức người KC ngôi thứ ba. Đây có thể xem là sự [3] Nguyễn Đức Chính chủ biên, 2015. Quản lí chất thành công của tác giả trong việc khái quát hiện thực đa lượng trong giáo dục. NXB Giáo dục Việt Nam. dạng nhiều chiều. Ngoài ra, việc sử dụng ngôn ngữ đối [4] Trần Kiểm 2016. Quản lí và lãnh đạo nhà trường thoại và giọng điệu trần thuật lạnh lùng, dửng dưng, hiệu quả. NXB Đại học Sư phạm. khách quan cũng là một trong những yếu tố góp phần [5] Nguyễn Cảnh Toàn - Lê Hải Yến 2012. Xã hội học làm nên sự thành công của tác giả; thể hiện cái nhìn của tập - học tập suốt đời và các kĩ năng tự học. NXB nhà văn về cuộc sống và xã hội sâu sắc, gợi cho người Dân trí. đọc sự suy ngẫm, đánh thức nhận thức của con người. [6] Trần Khánh Đức 2010. Giáo dục và phát triển Đặc biệt, việc tổ chức thời gian và không gian nghệ thuật nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI. NXB Giáo dục cũng là yếu tố tích cực làm nên sự thành công của tác Việt Nam. phẩm. Trong truyện ngắn Không có vua, Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng thời gian và không gian thực khiến [7] Harold Kootz - Cyriodonnell - Heinz Weihrich cho con người, cảnh vật hiện lên chân thật, gần gũi. Tất 1997. Những vấn đề cốt yếu về quản lí. NXB Khoa cả những thứ giản dị, đời thường ấy lại gợi cho người học kĩ thuật. đọc bao suy nghĩ, trăn trở. Chính những thành công trên [8] Nguyễn Khắc Hùng 2010. Giáo dục thường xuyên đã góp phần làm nên tính hiện đại của truyện ngắn trong xã hội học tập ở Việt Nam. NXB Đại học Quốc Không có vua, đồng thời góp phần khẳng định sự xuất gia TP. Hồ Chí Minh. hiện của Nguyễn Huy Thiệp có ý nghĩa lớn đối với sự [9] Phan Văn Kha - Phạm Phương Tâm 2016. Thực đổi mới của văn học dân tộc. Và đây cũng là những định trạng quản lí đào tạo từ xa trình độ đại học vùng hướng giúp sinh viên tiếp nhận tác phẩm một cách hệ Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Giáo dục, thống dưới góc nhìn tự sự học. số đặc biệt tháng 12; tr 52-55. [10] Phan Văn Kha - Phạm Phương Tâm 2016. Mô hình Tài liệu tham khảo quản lí đào tạo từ xa đáp ứng nhu cầu nhân lực trình [1] Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi độ đại học. Tạp chí Khoa học Giáo dục, Viện Khoa 2009. Từ điển thuật ngữ văn học. NXB Giáo dục. học Giáo dục Việt Nam, số 134, tr 13-18. 38 Sự ra đi của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp Tuổi Trẻ ngày 21-3 đã để lại một khoảng trống lớn trong văn đàn Việt Nam - Ảnh DƯƠNG MINH LONGLòng tin của ông vào con người không bao giờ mất. Ông yêu thương con người bắt đầu bằng sự phê phán, ông miêu tả hết cái nhếch nhác, tầm thường, cái khốn nạn, cái không đáng yêu của cuộc đời, nhưng chính bằng cách đó ông lại làm cho người ta hiểu và yêu đời hơn và có thể làm người tốt nghiên cứu VƯƠNG TRÍ NHÀNTrong văn học Việt Nam đương thời, Nguyễn Huy Thiệp đứng một mình, đứng riêng một chỗ. Nguyễn Huy Thiệp viết do ông thấy tự mình phải viết và không viết không đúng về cái ác chính là khơi dòng cho sự nhân hậuNgười ta sớm thấy toát ra trong các truyện ngắn của ông những ý đại loại như "cuộc đời thật là xấu, không đáng tin, nhưng không tin thì làm sao mà sống nổi", "cuộc đời rất buồn nhưng cuộc đời vẫn rất đẹp."Đọc Tướng về hưu, Không có vua... thấy Nguyễn Huy Thiệp đã rất lõi đời, nhìn đời thấy không có gì đáng sống, nhưng người ta vẫn phải sống với nó. Về sau đọc Nguyễn Thị Lộ hay Sang sông thì lại thấy Nguyễn Huy Thiệp vẫn còn có cái bình thản tin đời, tin cả cái hào sảng trong sáng của hồn nhiên suy nghĩ chứ không cố tỏ ra triết lý, tỏ ra sâu sắc. Cũng tức là không cố tỏ ra hiểu đời mà thật đã rất hiểu sống với tư tưởng của muôn đời khi đề cập đủ chuyện nào vấn đề thiện và ác, làm người thế nào, nào câu hỏi cuộc sống là tốt đẹp hay đáng phỉ nhổ...Bao giờ câu trả lời của Nguyễn Huy Thiệp cũng song trùng, vừa thế này vừa thế kia, như bản chất của vật chất vừa là sóng vừa là hạt, cuộc đời vừa đáng yêu vừa đáng ghét, vừa đáng phỉ nhổ vừa đáng trân trong một truyện ngắn con người hiện ra "nhếch nhác toàn tập" như Không có vua thì câu người ta nhớ nhất là câu "Thương lắm" của cô Sinh, ở cuối Nguyễn Huy Thiệp, người viết văn viết báo ở ta luôn luôn bị môi trường hoạt động của mình chi phối, người nọ nhìn người kia mà sống và làm nghề. Chúng tôi thường trông đàn anh của mình viết rồi viết theo, không vượt được hoàn Huy Thiệp chẳng nhìn ai cùng thời, ông sống với các nhà văn lớp trước từ Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Tú Xương trở đi tới Nam Cao, Nguyễn Bính, Vũ Trọng Phụng... Rõ ràng Nguyễn Huy Thiệp đối thoại, trò chuyện với rất nhiều đấng bậc, những người làm vẻ vang cho văn học Việt Nam, những nhà văn thực lớn nhà văn hiện nay bắt đầu là những chiến sĩ văn nghệ, với vai đó họ là những công chức cần thiết cho xã hội. Về sau một số họ lại thường tuyên bố chỉ làm văn nghệ cho vui. Nhưng theo tôi trước sau họ vẫn không phải là "làm" văn học. Hoặc nói chính xác hơn họ không làm thứ văn học có thể tiếp nối được dòng mạch mà những nhà văn lớn của Việt Nam đã tạo ra được trong lịch sử, thứ văn học của muôn khi Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện, văn học thường xa lạ với các vấn đề trừu tượng nhất là các vấn đề nhân bản. Đến Nguyễn Huy Thiệp, những phạm trù của muôn đời như chuyện thiện và ác trong con người lại là ngón sở trường của thấy Nguyễn Huy Thiệp viết về cái ác thì người ta kêu ầm lên rằng không nên làm thế, không cần viết về cái ác mà nghệ thuật chỉ viết về cái thiện là đủ thậm chí cho viết về cái ác là tội Huy Thiệp không thể làm khác. Hình như trong thâm tâm ông cảm thấy cần viết về cái ác, phải làm thế mới đẩy lùi nó đi ác trong văn Nguyễn Huy Thiệp dai dẳng, bao trùm. Và viết về cái ác chính là cái nhân hậu của Nguyễn Huy Thiệp, lòng nhân hậu của những nhân vật lớn, cái nhân hậu xa lạ với khuôn mẫu sự nhân hậu đương thời. Đó là sự nhân hậu lặn sâu bên tin của ông vào con người không bao giờ mất. Ông yêu thương con người bắt đầu bằng sự phê phán, ông miêu tả hết cái nhếch nhác, tầm thường, cái khốn nạn, cái không đáng yêu của cuộc đời, nhưng chính bằng cách đó ông lại làm cho người ta hiểu và yêu đời hơn và có thể làm người tốt người hiện nay cũng viết về cái ác nhưng không có cái tâm của ông nên không thể đạt hiệu quả như văn Nguyễn Huy Thiệp ký tặng sách họa sĩ Lê Thiết Cương tại nhà họa sĩ năm 2018 - Ảnh LÊ THIẾT CƯƠNGKhông thay đổi theo thờiNguyễn Huy Thiệp lạ lắm, ông sống hòa hợp với các đồng nghiệp mà hình như vẫn đứng ngoài giới nhà văn đương thời và có lẽ điều đó cắt nghĩa được vì sao Nguyễn Huy Thiệp chịu đựng giỏi được như không thấy ai, trong suốt cuộc đời làm nghề, có tài chịu đựng được như Nguyễn Huy Thiệp. Bao lần tôi cứ tưởng ông gục ngã song ông vẫn đứng vượt qua được những tàn bạo của đời có lẽ cũng vì ông sớm đạt được cái đạo là biết sự nổi tiếng của mình phải trả giá rất nhiều. Một thứ bản năng thiêng liêng mách bảo ông phải chấp nhận những đau khổ thì mới phải đạo, và Nguyễn Huy Thiệp đã không đầu hội hiện nay thù ghét nhiều cá tính sang trọng, tiêu diệt nhiều lối suy nghĩ chính trực. Con người chen cạnh nhau ràng buộc nhau nhiều quá, do đó giống nhau quá. Nhưng Nguyễn Huy Thiệp viết không để chen cạnh ai, không viết để lấy giải thưởng. Ông chỉ là ông một cái tôi của từng trải và các loại tri thức học vấn thứ thiệt. Nên nhớ ông từng là giáo viên lịch vẫn nghĩ, thật may mắn cho mình được sống cùng thời với Nguyễn Huy Thiệp. May mắn chúng ta còn có Nguyễn Huy cuộc đời trầm luân, nhưng đáng giáVới nhà văn, nhà giáo Nhật Chiêu, văn chương Nguyễn Huy Thiệp đầy khí lực với bút pháp phản uyển ngữ. "Văn chương Việt Nam từ trước đến nay có một đặc điểm là thích dùng uyển ngữ, tức cách nói vòng, nói tránh là chủ yếu. Cho đến khi Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện, đem lại một sinh khí mới, mà ở đó người ta thấy sự trần trụi hiểu theo mọi nghĩa của từ này. Bút pháp ấy như là phản uyển ngữ, làm cho bỗng dưng văn chương có một khí lực mới, tất nhiên ở Việt Nam thôi, chứ không mới so với nước ngoài. Nhưng quả thật nó lạ với dòng văn chương quá nhiều uyển ngữ của Việt Nguyễn Huy Thiệp trở về sau này, một số nhà văn Việt Nam có vẻ cũng thử nghiệm với bút pháp phản uyển ngữ nhưng đều không thành công bằng" - nhà văn Nhật Chiêu chia văn Nguyễn Huy Thiệp - Ảnh NGUYỄN ĐÌNH TOÁN"Tôi đã "gặp" Nguyễn Huy Thiệp từ năm 15 tuổi nhưng mãi đến năm 2019, khi ở tuổi 47 tôi mới được gặp ông ngoài đời tại Hà Nội" - nhà văn Trần Nhã Thụy tâm sự khi hay tin nhà văn Nguyễn Huy Thiệp vừa tạ thế. Lần "gặp" năm 15 tuổi là lúc cậu học sinh lớp 10 chuyên văn cùng các bạn làm bài bình luận về Tướng về hưu - truyện ngắn in trên báo Văn Nghệ một năm trước đó 1987.Có thể nói điều này, đối với lớp nhà văn chúng tôi, không ít thì nhiều đều ảnh hưởng bởi phong cách truyện ngắn Nguyễn Huy ngắn của Nguyễn Huy Thiệp có từ trường rất mạnh, nó hút người ta vào ngay từ chữ và dòng đầu tiên. Nguyễn Huy Thiệp cũng là người rất giỏi sử dụng đối thoại theo kiểu "công án thiền" nên vừa thực vừa ảo, vừa ẩn dụ vừa hiện thực, vừa khuấy đảo tâm trí vừa gợi mở tưởng tượng... Mấy chục năm rồi, có thể nói chưa có gương mặt truyện ngắn nào có thể thay thế Nguyễn Huy cũng xin nói thật điều này, hồi còn trẻ tôi từng không thích, thậm chí là ghét Nguyễn Huy Thiệp, không phải vì ông làm gì tôi cả, mà vì ông quá tài. Nhưng khi càng lớn tôi tự "hóa giải" điều đó vì thấy thật ngu xuẩn. "Danh càng lớn thì họa càng cao", đó là câu nói của Nguyễn Huy Thiệp mà tôi lấy làm bài học cho mình trong suốt cuộc đời này. Một cuộc đời trầm luân, nhưng đáng giá, đó chính là Nguyễn Huy Thiệp".LAM ĐIỀN ghiTin từ gia đình nhà văn Nguyễn Huy Thiệp cho biết, tang lễ của nhà văn sẽ được tổ chức tại Nhà tang lễ quốc gia số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội vào sáng viếng từ 9h15 đến 10h30, an táng tại nghĩa trang nhỏ ở huyện Đông Anh, trong khu mộ của gia đình cùng với vợ ông, người đã đi trước ông hơn 100 ngày Nhà văn Việt Nam sẽ đứng ra cùng gia đình tổ chức tang lễ cho nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Ông Nguyễn Bình Phương - phó chủ tịch hội nói đây là vinh dự lớn của hội. Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều sẽ viết và đọc điếu văn trong tang lễ của Nguyễn Huy là điếu văn đầu tiên ông Thiều viết cho một hội viên với tư cách là chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Ông Thiều cảm động coi đây là mối duyên đẹp giữa ông và nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Sau năm 1975, văn học Việt Nam vận động theo hai hướng khác nhau, một hướng với các nhà văn Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn, Chu Lai, Xuân Trình, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Duy, Dương Thu Hương, Lê Lựu…văn học đổi mới theo khuynh hướng phản sử thi; và Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Hưng…là những nhà văn, nhà thơ đầu tiên đưa văn học nước nhà đổi mới theo một hướng khác, hướng thứ hai, có thể gọi là hậu hiện đại. Và như trên đã trình bày, Chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt Nam chỉ mang tính chất là yếu tố của hậu hiện đại. Trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp cũng thế, yếu tố hậu hiện đại biểu hiện thông qua tâm trạng và cảm quan hậu hiện đại của tác giả. Xin phân tích một vài đặc điểm trong truyện ngắn Không có vua của Nguyễn Huy Thiệp để làm rõ điều này. Truyện Không có vua là truyện ngắn kể về cuộc sống trong gia đình lão Kiền. Cuộc sống ấy xoay quanh lão Kiền - một thợ chữa xe đạp; con trai đầu là Cấn - thợ hớt tóc cùng vợ mới cưới là Sinh; tiếp đến là Đoài - một công chức ngành giáo dục; Khiêm - một nhân viên lò mổ; Khảm - sinh viên đại học và Tốn - em út, bị bệnh thần kinh. Thông qua những sự việc xảy ra và cách nhân vật cư xử với nhau hằng ngày, tác giả nhằm gửi đến người đọc những thông điệp về sự tan vỡ của mối quan hệ trong gia đình và sự biến chất của đạo đức con người dưới sự biến động của xã hội. Tuy cùng sử dụng một chất liệu với các nhà văn cùng thời như những phương diện tạo nên mặt tối trong đời sống con người cá nhân hoặc trạng thái phong hóa xã hội, nhưng Nguyễn Huy Thiệp lại kể cho chúng ta những câu chuyện hoàn toàn khác hẳn. Đó là những câu chuyện với nhân vật trong Không có vua, một thế giới không hề có sự xuất hiện của nhân vật chính diện, một thế giới như các nhà nghiên cứu từng gọi là “cuộc đời vô nghĩa” trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Một giọng điệu kể khinh bạc, lạnh lùng, thậm chí tàn nhẫn phù hợp với câu chuyện tác giả đưa đến cho người đọc, câu chuyện của lão Kiền, Cấn, Đoài, Khâm…chạy theo những tham vọng phù du của đồng tiền; của cô Sinh lầm lũi chấp nhận cuộc đời vô vị bên người chồng thô bạo; của Khiêm với công việc giết mổ lợn, ngày ngày lấy trộm bộ lòng và hai cân thịt; của Tốn không chịu được bẩn, suốt ngày chỉ biết lau nhà, giặt giũ. Ta có cảm giác các nhân vật không hề nhìn về cuộc sống tương lai phía trước, chỉ là những mưu toan, tính toán chi ly cho miếng ăn hàng ngày, bởi họ quan niệm “có thực mới vực được đạo”. Có chăng thì chỉ là Đoài và Khảm, nhưng tương lai của họ là luồn cúi, nhờ vả để được tiến thân; là lấy cô Mỹ Trinh “con ông Ánh sáng ban ngày” để được hưởng của hồi môn. Những con người chỉ biết cặm cụi phục vụ cho cuộc sống vô nghĩa của mình, cho những tính toán nhỏ nhen, tầm thường. Sự lên ngôi của đồng tiền đã kéo theo nhiều sự đổ vỡ trong mối quan hệ gia đình. Ta không hề bắt gặp trong thế giới ấy đạo lý của gia đình. Tất cả các trật tự trong gia đình bị phá vỡ, xáo trộn con mỉa mai cha “một miếng vá xăm đáng một chục nhưng tương lên ba chục thì có đức đấy”; cha chửi rủa con; em chồng chọc ghẹo, đòi ngủ với chị dâu; cha chồng nhìn trộm con dâu tắm; em đánh anh…Còn nhiều thứ nữa khiến ta không dám khẳng định đây là một gia đình. Trạng thái nhân thế thì đảo điên,thiếu vắng chuẩn mực giá trị, điểm tựa tinh thần…có lẽ vì thế mà thế giới ấy trở nên vô nghĩa. Thế giới vô nghĩa trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp gần với cái thế giới bơ vơ, rối loạn, đảo lộn của Chủ nghĩa hậu hiện đại, con người không có niềm tin vào giá trị truyền thống và cuộc đời. Và kết thúc mỗi truyện ngắn, tác giả đưa cho người đọc một sự thật trớ trêu hoặc sự thất bại ê chề; điều này gần với kiểu tác giả hậu hiện đại-tân cổ điển. Chính điều này tạo nên trong lòng đọc giả tâm trạng hoài nghi đang tồn tại trong cuộc sống, vậy đâu là ý nghĩa của cuộc sống? Bên cạnh đó các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp còn phảng phất tư duy nghệ thuật của hậu hiện đại. Đó là nguyên tắc lạ hóa theo kiểu câu đố, một nền tảng cấu trúc của các trào lưu, trường phái hậu hiện đại. Câu đố chính là logic của cảm giác, tạo cho người nghe một cảm giác tươi rói như lần đầu được nghe bằng cách lạ hóa các khái niệm, tên gọi thân thuộc hàng ngày. Nguyên tắc lạ hóa ở đây chính là điểm nhìn mới mẻ của nhà văn về con người và đời sống. Tác giả khai thác tính cách của nhân vật đối lập với vai trò trong xã hội; tức là không dựa vào hình dáng, công việc mà khai thác trong những mối quan hệ của các nhân vật với nhau. Và tính cách ấy đối lập với nghề nhiệp của họ. Chẳng hạn, nhân vật Đoài-công chức ngành giáo dục, một nhân vật có học thức nhất trong gia đình lại được nhớ đến như kẻ đê tiện và xấu xa nhất. Lão Kiền không được miêu tả với việc sửa chữa xe đạp mà là bắc ghế nhìn con dâu khỏa thân trong phòng tắm. Nhưng Khiêm-nhân viên lò mổ, một gã đồ tể như “tacdang” giết lợn không gớm tay lại để dấu ấn nhờ hành động đứng ra bảo vệ Tốn và Sinh trước sự đối xử tệ bạc của gia đình. Và Tốn-cậu bé bệnh thần kinh, một nhân vật ngây ngô, khờ khạo, bệnh tật nhất trong truyện lại là người giàu tình yêu thương và có sự sáng suốt nhất bởi cậu nhận ra hiện trạng “không có vua” trong gia đình mình. Mỗi tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp là một trò diễn của câu chữ. Trò diễn ngôn từ ấy được tạo nên bằng cách tạo sự rỗng nghĩa trong câu chữ và người đọc sẽ có những cách hiểu và cảm nhận khác nhau, tùy theo trình độ tư duy và cách tiếp cận. Trong truyện ngắn Không có vua, trò diễn này được thể hiện qua nhan đề, sườn truyện và phát ngôn tư tưởng của tác giả. Về nhan đề, “Không có vua” đặt trong bối cảnh của diễn biến truyện có thể được hiểu như sau “Vua” ở đây không chỉ là người có vai vế lớn nhất mà còn thể hiện trật tự cao thấp trong đạo lý cư xử của con người với nhau. Vua sẽ là người được tôn trọng nhất, kính nể nhất mà mọi người phía dưới đều sợ hãi; đồng thời, vua là người có trách nhiệm nặng nề nhất để lãnh đạo trật tự trong xã hội. Đối chiếu trong một gia đình thì người được mang vai trò “vua” ấy, được kính nể nhất và phải gánh vác trách nhiệm nặng nề nhất là người cha. Và trật tự trong gia đình ấy sẽ được đảm bảo theo tôn ti trật tự, vai vế. Ngay từ nhan đề tác phẩm, “Không có vua” tức là tác giả đã khẳng định mọi quyền hạn và trách nhiệm của người cao nhất trong gia đình đã bị bác bỏ và cái trật tự của xã hội nhỏ bé ấy hoàn toàn bị phá vỡ. Và gia đình của lão Kiền đã rơi vào hoàn cảnh “không vua” như thế. Mà “vua” đối với gia đình lão chính là đồng tiền. Về sườn truyện, cấu trúc của tác phẩm đi theo thứ tự các phần Gia cảnh-Buổi sáng-Ngày giỗ-Buổi chiều-Ngày tết- Ngày thường. Kết cấu tự sự đã trở nên mờ nhạt, khó nhận ra logic nhân quả theo trật tự thời gian. Kết cấu truyền thống đã bị phá vỡ, phân thành những mảnh nhỏ, mang lại cảm giác như một sự lắp ghép các sự kiện một cách ngẫu nhiên của ý thức. Đồng thời, truyện của Nguyễn Huy Thiệp phá vỡ quan niệm về sự xác tín trong lời phát ngôn của nhân vật. Lời nhân vật có khi trái ngược hoàn toàn với tư tưởng tác giả gửi gắm. Thế giới trong Không có vua với những nhân vật hành động và nói năng đầy vô nghĩa; qua đó nhà văn đưa đến cho người đọc sự trăn trở về ý nghĩ cuộc sống trên hành trình đi tìm hạnh phúc của con người. Ta thấy hầu như các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp đều mang một tâm trạng và cảm quan hậu hiện đại như thế. Nó góp phần hình thành nên một xu hướng văn học đang phát triển hiện nay xu hướng tìm tòi cách tân theo hậu hiện đại. Xem thêm Yếu tố hậu hiện đại trong "Tướng về hưu" - Nguyễn Huy Thiệp Yếu tố hậu hiện đại trong "Vàng lửa" - Nguyễn Huy Thiệp

không có vua nguyễn huy thiệp